Truy cập nội dung luôn

 

Chào mừng đến Quỹ Đầu tư phát triển Tiền Giang

Nhiệt liệt chào mừng đại hội đại biểu Đảng bộ khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh lần thứ I, nhiệm kì 2020-2025!

Chi tiết tin

Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay của Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Tiền Giang
06/12/2019

Trong xu thế hội nhập, sức khỏe của nền kinh tế được phản ánh rõ nét thông qua sự lưu thông của huyết mạch tài chính, tiền tệ, cụ thể là quá trình vận hành của các tổ chức tín dụng. Những khó khăn của nền kinh tế, sự yếu kém trong quản trị doanh nghiệp đều có thể mang lại những rủi ro khôn lường cho hoạt động của các TCTD. Phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) là vấn đề khó khăn, phức tạp. Vì vậy, bài viết này muốn nêu những giải pháp để quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Tiền Giang.

1. Sự cần thiết vàý nghĩacủa quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay.

Quản trị rủi ro tín dụng (QTRRTD) để bảo vệ tổ chức tín dụng tránh khỏi những thiệt hại không dự tính trước, bảo đảm không ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và khả năng tồn tại của TCTD bằng cách hạ thấp rủi ro tín dụng bằng các biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng và kiểm soát rủi ro.

- Rủi ro tín dụng (RRTD) là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự tổn thất về vốn của các TCTD

Thu nhập của các TCTD được đem lại chủ yếu là từ nguồn thu nhập của hoạt động tín dụng. Thực tế, RRTD là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự tổn thất về vốn cho các TCTD. Vì vậy, RRTD được xem là một trong những nhân tố hết sức quan trọng, đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải có khả năng phân tích, đánh giá và QTRRTD hiệu quả.

  • QTRRTD là thước đo năng lực kinh doanh của các TCTD

Tình hình kinh tế ngày càng có nhiều biến động, thị trường tài chính, tiền tệ và tổ chức tín dụng cũng diễn biến phức tạp hơn, tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là RRTD. Mặc dù, trước khi cho vay nhân viên tổ chức tín dụng đã tìm hiểu thị trường và dự đoán những rủi ro có thể xảy ra nhưng sự tiên liệu, phát hiện rủi ro tiềm ẩn và ứng phó của nhân viên tổ chức tín dụng là có giới hạn, trên thực tế RRTD phát sinh do nhiều nguyên nhân, có thể do nguyên nhân khách quan, chủ quan hay do bất khả kháng…

  • QTRRTD tốt là một lợi thế cạnh tranh của các TCTD

QTRRTD được thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng sàn lọc được những khách hàng có năng lực pháp lý tốt, năng lực tài chính tốt, có tiềm năng phát triển… nhằm giúp cho việc tài trợ vốn của tổ chức tín dụng thực sự mang lại hiệu quả, và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD trong quá trình cạnh tranh.

2.Mục tiêu quản trị rủi ro trong cho vay

Mục tiêu của việc quản lý rủi ro trong cho vay là đảm bảo sự an toàn trong hoạt động cấp tín dụng và tối đa hóa lợi nhuận của đơn vị trong phạm vi rủi ro có thể chấp nhận được. Khi nhu cầu vốn cho nền kinh tế ngày càng tăng thì mức độ tăng trưởng tín dụng cũng tăng lên tương ứng. Khi tín dụng tăng trưởng thì sẽ kéo theo sự gia tăng rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi, nó tồn tại khách quan cùng với sự tồn tại của hoạt động tín dụng. Chính vì thế, công tác quản trị rủi ro tín dụng với mục tiêu: Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng tín dụng.

3.Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Tiền Giang.

Thời gian qua, Quỹ đã không ngừng hoàn thiện về các quy chế, quy định, quy trình, thủ tục trong cho vay đầu tư, hoạt động quản trị rủi ro đã có chuyển biến tích cực: Cùng với sự tăng giảm của số dư cho vay, tỷ lệ nợ xấu có xu hướng giảm theo từng năm.

Hạn chế trong QTRRTD của Quỹ hiện nay:

- Chưa có bộ phận kiểm soát nội bộ:Kiểm soát nội bộ là một chốt chặn tin cậy trong công tác kiểm soát rủi ro.

- Công tác thẩm định dự án đầu tư, phương án kinh doanh chưa đánh giá hết những rủi ro, khả năng giám sát việc sử dụng vốn vay còn nhiều hạn chế.

- Quỹ chưa thành lập được bộ phận pháp chế am hiểu những quy định của pháp luật trong công tác soạn thảo hợp đồng, biên bản nói riêng, các mẫu biểu thống nhất theo quy định của pháp luật nói chung trong hoạt động cho vay nhằm hạn chế rủi ro khi xảy ra nợ xấu dẫn đến kiện tụng, tranh chấp.

 - Một nguyên nhân khác dẫn đến RRTD là năng lực quản trị của một số công ty, HTX chưa tốt dẫn đến mất khả năng thanh toán,…

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Quỹ

4.1 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định

Quy trình cho vay đang được áp dụng tại Quỹ tương đối chặt chẽ tuy nhiên nhược điểm là còn tùy thuộc quan điểm, đánh giá của cán bộ thẩm định, của lãnh đạo Quỹ.

a) Thẩm định phương án vay vốn và khả năng trả nợ của khách hàng: phải đặt mục tiêu an toàn lên trên hết, có những đề xuất hợp lý nhằm hạn chế những rủi ro và giảm thiểu những thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng.

b) Thẩm định tài sản đảm bảo

Đối với đặc thù của tín dụng tại Việt Nam, trước mắt, tài sản đảm bảo (TSĐB) vẫn là nguồn trả nợ chính thứ hai nên việc thẩm định kỹ tài sản đảm bảo sẽ giúp ích rất nhiều trong xử lý tài sản nếu KH không trả được nợ. Từ việc định giá phải thật chính xác, áp dụng nhiều phương pháp định giá hiệu quả và cập nhật hơn, hạn chế việc sử dụng giá trị còn lại trên sổ sách kế toán của bên vay để sử dụng làm giá trị định giá; cho đến việc soạn thảo, ký kết và thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết như công chứng, đăng ký giao dịch đảm bảo trước khi cho vay.

Hợp đồng thế chấp là cơ sở pháp lý quan trọng nhất. Đây là nguồn trả nợ thứ hai nếu khách hàng mất khả năng chi trả, do đó phải xem xét kỹ các yếu tố sau:

  •  Tình trạng pháp lý của tài sản: hợp pháp, không tranh chấp, tính thanh khoản…

  •  Phải có nguồn thông tin tham khảo rõ ràng về giá trị, định giá phải thật chính xác, an toàn, đảm bảo tính khách quan.

  •  Xem xét các yếu tố về điều kiện an toàn (phòng cháy, chống trộm cắp, điều kiện an toàn), có cần phải mua bảo hiểm hay không.

  •  Lợi thế thương mại, quy hoạch xây dựng, khả năng bán, thanh lý.

Việc định giá tài sản phải thường xuyên cập nhật theo giá thị trường, trường hợp có biến động lớn về giá phải nhanh chóng định giá lại và có biện pháp thu hồi bớt nợ hoặc yêu cầu khách hàng bổ sung TSĐB kịp thời, tránh gây tổn thất cho Quỹ.

Trong quá trình quan hệ tín dụng, kiểm tra thấy giá trị TSĐB bị sụt giảm, không đủ điều kiện đảm bảo món vay, Quỹ phải thông báo để khách hàng bổ sung TSĐB. Nếu không, phải có phương án rút dần vốn tín dụng để đảm bảo an toàn cho Quỹ.

Đối với tài sản bảo lãnh, cần phải thông báo rõ về khoản vay, tình trạng khoản vay cho bên nhận bảo lãnh.

4.2. Nâng cao công tác kiểm soát nội bộ

Hiện nay tại Quỹ chưa có kiểm soát nội bộ. Đây là một trong những lỗ hổng cơ chế của Quỹ mà chưa có điều kiện khắc phục. Kiểm soát nội bộ là một chốt chặn tin cậy trong công tác kiểm soát rủi ro, nhiệm vụ của kiểm soát viên như sau:

  • Kiểm tra sự phù hợp và hiệu quả của các chính sách tín dụng, quy trình phê duyệt tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng.

  • Kiểm tra chất lượng của việc thẩm định tín dụng.

  • Rà soát công tác đánh giá TSĐB và mức độ đầy đủ của TSĐB.

  • Rà soát mức độ đầy đủ của dự phòng rủi ro.

- Rà soát mức độ tuân thủ của quản trị rủi ro tín dụng và quản trị tín dụng với chiến lược quản trị rủi ro của Quỹ.

  • Khuyến nghị và kế hoạch theo dõi.

Trong công tác kiểm tra nội bộ, ngoài thực hiện kiểm tra theo định kỳ, cần tập trung và tăng tần suất kiểm tra các khách hàng có xếp hạng tín dụng thấp, đánh giá việc thực thi các biện pháp quản lý nợ có vấn đề và khả năng thu hồi nợ.

Kiểm soát viên nội bộ phải hội đủ các điều kiện sau:

  • Có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tế về một loại nghiệp vụ tín dụng trong thời gian dài (tối thiểu từ 02 đến 05 năm). Hiểu rõ những sơ hở nghiệp vụ thường tập trung ở khâu nào, nghiệp vụ nào.

  • Được đào tạo chuyên môn về kỹ năng.

  • Các kiểm soát viên không nên kiêm nhiệm các công việc khác không thuộc chức năng kiểm soát nội bộ và được hỗ trợ về cơ sở vật chất, phương tiện làm việc để thực hiện nhiệm vụ.

4.3. Kiểm soát chặt chẽ giai đoạn trong và sau khi cho vay

Trong giai đoạn giải ngân:

Cán bộ tín dụng cần kiểm tra hồ sơ vay thật kỹ, nhất là về hồ sơ pháp lý của dự án, đảm bảo chủ đầu tư thực hiện dự án đúng theo quy định của pháp luật nhà nước nhất là luật đấu thầu, luật xây dựng cơ bản và các luật liên quan.

Kiểm tra hồ sơ đồng thời với kiểm tra thực tế hiện trường để tránh tình trạng chủ đầu tư sử dụng vốn sai mục đích, khai khống các chi phí nhất là khi chủ đầu tư áp dụng hình thức tự thực hiện.

Giai đoạn kiểm tra sau cho vay

Một khoản vay có hiệu quả sẽ phụ thuộc không ít vào việc kiểm tra tín dụng. Ngay cả đối với các khoản vay tốt nhất cũng cần có một số kiểm tra nhất định, định kỳ để đảm bảo nó đang hoạt động theo dự kiến, tình trạng của khoản vay không xấu đi. Vì vậy, giai đoạn này mang ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro và giảm thiểu rủi ro trước khi nó xảy ra, gây hậu quả nặng nề với phần vốn vay.

4.4. Tăng cường các biện pháp tài trợ rủi ro

Hiện nay, Quỹ đã làm rất tốt một số các biện pháp tài trợ rủi ro như sau:

  • Luôn yêu cầu và bắt buộc các chủ dự án phải mua bảo hiểm cháy nổ đối với các tài sản bắt buộc phải mua bảo hiểm theo quy định

  • Các tài sản thế chấp tại Quỹ luôn được hoàn thiện đầy đủ các thủ tục như nhập kho giấy tờ có giá, đăng ký giao dịch bảo đảm trước khi tiến hành giải ngân

  • Định kỳ, Quỹ luôn tiến hành phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro đúng quy định.

Tuy nhiên, trong thời gian tới, khi dư nợ của Quỹ ngày càng tăng, khối lượng khách hàng nhiều, Quỹ cần phải nghiên cứu đến một số các biện pháp tăng nguồn tài trợ cho rủi ro khác để hạn chế thấp nhất những thiệt hại từ RRTD như:

- Mua bảo hiểm cho các khoản vay.

- Ngoài bảo hiểm cháy nổ, đề nghị chủ đầu tư mua bảo hiểm khác cho những thiết bị có giá trị lớn mà Quỹ giải ngân cho vay, hoặc bảo hiểm cho những tổn thất trong quá trình hoạt động kinh doanh.

- Hằng năm Quỹ cần bắt buộc định giá lại giá trị tài sản, định kỳ phải kiểm tra thường xuyên nếu phát hiện tài sản có dấu hiệu xuống cấp hoặc sụt giảm giá trị thì phải đề nghị đánh giá lại tài sản, nếu giá trị tài sản giảm xuống thì đề nghị khách hàng phải bổ sung thêm tài sản đảm bảo.

- Việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Quỹ hiện nay chỉ dựa trên cơ sở nợ quá hạn mà chưa xét đến yếu tố chất lượng của các khoản tín dụng. Trong thời gian tới Quỹ cần quan tâm trích lập dự phòng theo các nội dung sau:

+ Xây dựng các tiêu chí cho việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro.

+ Chủ động phân loại nợ theo tính chất, khả năng thu hồi nợ của khoản vay

+ Chính sách trích dự phòng rủi ro phải được phê duyệt trên cơ sở đánh giá tình hình kinh tế, khả năng trả nợ của khách hàng nhằm thể hiện đúng bản chất của dự phòng các tổn thất.

4.5. Tiêu chuẩn hóa cán bộ tín dụng

Yếu tố con người là quan trọng nhất khi xem xét đến bất kỳ một hoạt động nào trên mọi lĩnh vực. Trong tín dụng, yếu tố con người lại càng quan trọng hơn gấp nhiều lần, con người quyết định đến chất lượng tín dụng, chất lượng dịch vụ và hiệu quả tín dụng.

Kết luận:

Rủi ro tín dụng là một thực tế khách quan, song hoạt động của các TCTD là một hoạt động nhạy cảm có tác động lớn đến tình hình kinh tế xã hội. Do vậy quản lý và giám sát cáchoạtđộngkinhdoanhcủa Quỹ,đặcbiệtlàhoạtđộngcho vayluônlàưutiênhàng đầucủacáccơquanquảnlýNhànước. Bài viết chỉ nêu thực trạng và một số giải pháp mang tính đóng góp giúp Quỹ có cái nhìn cụ thể hơn về rủi ro tín dụng tại Quỹ. Từđóhoàn thiện, nâng cao công tác quản trị rủi ro và giảm thiểu rủi rotrong hoạt động cho vay./. 

Minh Hương – Phòng Thẩm định – Tín dụng.

Văn bản mới Văn bản mới

 Quyết định 08/QĐ-HĐQL ngày 03/03/2020 của Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Tiền Giang về Ban hành Quy chế cấp bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quy chế Cấp bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Tiền Giang
 QUYẾT ĐỊNH số 46/QĐ-QD9TPT ngày 26/12/2019 về Ban hành Quy trình nghiệp vụ ứng vốn phát triển quỹ đất của Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Tiền Giang
 QUYẾT ĐỊNH số 44/QĐ-HĐQL NAGY2 17/12/2019 về Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quy chế ứng vốn phát triển quỹ đất được ban hànhtại Quyết địnhsố 03/QĐ-HĐQL ngày 02/02/2018 của Hội đồng quản lý Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Tiền Giang

Liên kết Liên kết